Một số điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 qui định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Ngày đăng: 12/07/2017  - Lượt xem: 891

BLTTHS năm 2015 ra đời đã tháo gỡ phần lớn những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, tăng cường trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong đó có VKSND. So với quy định của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung những quy định tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra.

+ Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên: Theo quy định tại Điều  37 BLTTHS 2003, KSV là người trực tiếp giải quyết vụ án nhưng chỉ được giao một số ít các thẩm quyền tố tụng và chủ yếu là những thẩm quyền có tính chất thi hành lệnh, quyết định của Viện trưởng.

Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc này, tại Điều 42 BLTTHS năm 2015 đã tăng cho KSV các thẩm quyền, đó là: Trực tiếp giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; Triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, đề nghị thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; Bắt buộc có mặt khi Cơ quan điều tra tiến hành đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét; Yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã, đình nã bị can; Quyết định áp giải người bị bắt, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại; Quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội.

+ Điều 104 BLTTHS 2003 quy định: Việc khởi tố vụ án được giao cho CQĐT ra quyết định; sau khi có quyết định khởi tố vụ án thì chuyển cho VKS để thực hiện kiểm sát việc khởi tố. Đối với quyết định khởi tố bị can, CQĐT ra quyết định và phải được VKS cùng cấp phê chuẩn. Với quy định như vậy thực tế, VKS không nắm được việc khởi tố của CQĐT do những bất cập trong tiếp nhận và xử lý thông tin tội phạm. Mặt khác, tại Điều 103 BLTTHS năm 2003 chỉ quy định rất ngắn gọn trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Do vậy, VKS không nắm được con số thực tế CQĐT các cấp tiếp nhận được bao nhiêu tố giác, tin báo về tội phạm mỗi năm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến việc ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, mà còn ảnh hưởng đến việc nắm tình hình tội phạm diễn ra như thế nào.

Khắc phục bất cập này, tại Điều 146, Điều 146 BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể trách nhiệm và thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Công an phường, thị trấn, Đồn Công an, Công an xã, các cơ quan, tổ chức khác. Đồng thời bổ sung quy định “trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền”.

Đồng thời BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự của VKS trong các trường hợp: VKS trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; VKS trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm (Điều 153).

+ Đối với việc khởi tố bị can, khoản 5 Điều 126 BLTTHS quy định VKS chỉ thực hiện thẩm quyền khởi tố bị can sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố. Trong thực tiễn thực hiện quy định trên có nhiều bất cập khi trong giai đoạn điều tra, VKS phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thì VKS chỉ có thẩm quyền yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can nhưng thực tế có nhiều trường hợp VKS yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện. Để hạn chế bất cập này, tại khoản 4 Điều 179 BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định: Trường hợp phát hiện có người đang thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm chưa bị khởi tố thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can nếu đã yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện.

+ BLTTHS năm 2003 không quy định về việc giao nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra nên khi thực hiện còn chưa có sự thống nhất. Để tạo sự thống nhất trong thực tiễn áp dụng, Điều 238 BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể, khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giao hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và vật chứng (nếu có), trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) đã đầy đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng và bản kết luận điều tra đã được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án; trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) không đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng hoặc bản kết luận điều tra chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản kết luận điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can.

+ Điều 166 BLTTHS 2003 quy định trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày ban hành cáo trạng, VKS phải giao cáo trạng cho bị can, vì quy định trên không khả thi, quá ngắn đối với những trường hợp vụ án có nhiều bị can tại ngoại, bị can tạm giam ở nơi xa.

Để tháo gỡ khó nhăn trong những vụ án có đông bị can, BLTTHS năm 2015 bổ sung trường hợp đặc biệt, vì lý do khách quan, thời hạn giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can, người đại diện theo pháp luật của bị can có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày (Điều 240).

+ Về phục hồi vụ án, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định: khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án thì VKS ra quyết định phục hồi vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS. Nếu vụ án bị đình chỉ theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 157 của BLTTHS mà bị can không đồng ý và yêu cầu phục hồi vụ án thì VKS ra quyết định phục hồi vụ án.

Những điểm mới nêu trên của BLTTHS năm 2015 thay thế BLTTHS năm 2003 đã tháo gỡ phần lớn những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, tăng cường trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, ngày 29/6/2016, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của BLTTHS năm 2015. Do vậy cần có sự chuẩn bị đồng bộ tốt hơn đối với việc triển khai thực hiện BLTTHS năm 2015 khi có hiệu lực.

Tác giả: Hoàng Đình Đắc - Nguồn: Viện KSND huyện Tam Dương - Số lần được xem: 891


Liên kết website