Quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết số 42/2017 của Quốc hội

Ngày đăng: 31/07/2017  - Lượt xem: 352

Ngày 21/6/2017, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết số 42/2017). Nghị quyết này có hiệu lực thi hành trong 05 năm (từ ngày 15/8/2017 đến ngày 14/8/2022), gồm 19 điều, quy định một số chính sách đặc thù về xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (VAMC).

Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là quy định tại Điều 7 về quyền thu giữ tài sản bảo đảm, điều luật quy định cụ thể điều kiện, thủ tục, biện pháp thu giữ tài sản bảo đảm nhằm khắc phục tình trạng chủ tài sản cố tình chây ỳ, chống đối, làm chậm quá trình xử lý nợ xấu; đồng thời, ngăn chặn việc lạm dụng quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xâm phạm quyền khác của các chủ thể có liên quan.

1. Về điều kiện thu giữ tài sản bảo đảm: Tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC được thu giữ tài sản bảo đảm khi có đầy đủ 05 điều kiện sau:

Thứ nhất, khi xảy ra một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự, cụ thể: Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; và Trường hợp khác theo thỏa thuận hoặc luật có quy định.

Thứ hai, tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm nêu trên.

Thứ ba, giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo đúng quy định của pháp luật (quyền của bên nhận bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ 3).

Thứ tư, tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý tại Tòa án có thẩm quyền (có thể chưa giải quyết hoặc đang được giải quyết); không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật.

Thứ năm, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC đã hoàn thành nghĩa vụ công khai thông tin theo quy định tại Nghị quyết này.

2. Công khai thông tin trước khi thu giữ tài sản bảo đảm:

* Đối với tài sản bảo đảm là bất động sản:

- Thời điểm công khai: Chậm nhất là 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ.

- Nội dung thông tin được công khai: thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ.

- Hình thức công khai: phải thực hiện đầy đủ các hình thức sau:

+ Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình;

+ Gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an nơi có tài sản bảo đảm;

+ Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo đảm;

+ Thông báo cho bên bảo đảm bằng văn bản theo đường bưu điện có bảo đảm đến địa chỉ của bên bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm hoặc gửi trực tiếp cho bên bảo đảm.

* Đối với tài sản bảo đảm là động sản:

- Thời điểm công khai: Trước khi tiến hành thu giữ.

- Nội dung thông tin được công khai: về việc thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm, không bắt buộc phải xác định trước thời gian, địa điểm thu giữ.

- Hình thức công khai: phải thực hiện đầy đủ các hình thức sau:

+ Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình;

+ Thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm;

+ Thông báo cho bên bảo đảm bằng văn bản theo đường bưu điện có bảo đảm đến địa chỉ của bên bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm hoặc gửi trực tiếp cho bên bảo đảm.

Đối với tài sản bảo đảm là động sản, mặc dù Nghị quyết không quy định trách nhiệm thông báo cho cơ quan Công an trước khi thu giữ nhưng trong trường hợp cần thiết, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC có thể đề nghị cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 7 của Nghị quyết.

3. Về chủ thể thu giữ, gồm:

- TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC;

- Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD nhận bảo đảm khi được TCTD đó ủy quyền;

- TCTD bán nợ hoặc công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD bán nợ khi được VAMC đã mua nợ của TCTD đó ủy quyền.

Về nguyên tắc, TCTD phải trực tiếp thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm. TCTD chỉ được ủy quyền thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD đó; VAMC chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho TCTD bán nợ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD bán nợ.

4. Về biện pháp thu giữ

TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC, tổ chức được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm.

Quyền thu giữ tài sản bảo đảm phát sinh khi bên bảo đảm, bên giữ tài sản không giao tài sản bảo đảm cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC để xử lý.

Do đó, để thu giữ tài sản bảo đảm, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC được thực hiện các biện pháp cưỡng chế đối với tài sản để xác lập quyền nắm giữ, chi phối trực tiếp tài sản. Tuy nhiên, cần lưu ý là trong quá trình thu giữ, không được thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với người và toàn bộ quá trình thu giữ phải có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ, phải lập biên bản và có chữ ký của người chứng kiến.

5. Về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong quá trình thu giữ: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 7 của Nghị quyết:

Chính quyền địa phương các cấp và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo đề nghị của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC;

Trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC thì đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ tài sản bảo đảm.

Do Nghị quyết chỉ quy định trách nhiệm củacơ quan Công an nơi có tài sản bảo đảm” (đối với tài sản bảo đảm là bất động sản), cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm” (đối với tài sản bảo đảm là động sản) mà không quy định rõ là cơ quan Công an cấp tỉnh, cấp huyện hay cấp xã. Vì vậy, trách nhiệm cụ thể của cơ quan Công an các cấp trong việc thực hiện Nghị quyết này do Bộ Công an quy định (khoản 7 Điều 7 Nghị quyết số 42/2017)./.

Tác giả: Trịnh Duy Tám - Nguồn: Phòng 10, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 352


Liên kết website