Thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án theo Nghị quyết số 42/2017 của Quốc hội

Ngày đăng: 31/07/2017  - Lượt xem: 330

Để đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng (TCTD), tăng hiệu quả hoạt động xử lý tài sản bảo đảm, tại Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã quy định về việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án.

Dưới đây là những quy định của Nghị quyết về áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án và một số vấn đề kiểm sát viên cần lưu ý khi thực hiện công tác kiểm sát giải quyết theo thủ tục rút gọn.

1. Về phạm vi, điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng thủ tục rút gọn

- Về phạm vi: Các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm được áp dụng thủ tục rút gọn gồm 02 loại tranh chấp sau đây:

+ Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm;

+ Tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (VAMC).

- Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn: Đối với 02 loại tranh chấp nêu trên, Tòa án phải áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết khi có đủ ba điều kiện sau đây:

Thứ nhất, trong hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu cho bên nhận bảo đảm hoặc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC có quyền xử lý tài sản bảo đảm;

Thứ hai, giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo quy định của pháp luật;

Thứ ba, không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự giải trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

- Thủ tục giải quyết tranh chấp: Trường hợp tranh chấp đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết tại các khoản 3 và 4 Điều 317, các Điều 318, 319, 320, 321, 322, 323 và 324 Bộ luật tố tụng dân sự. Cụ thể:

Đối với vụ án theo thủ tục rút gọn, thành phần xét xử  sơ thẩm, phúc thẩm  chỉ gồm 01 Thẩm phán. Trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định.

Quá trình giải quyết theo thủ tục rút gọn, Thẩm phán không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải riêng mà  tiến hành hòa giải, công khai chứng cứ ngay sau khi khai mạc phiên tòa.

Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về toàn bộ các vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán kết thúc phiên Tòa; sau 07 ngày kể từ ngày phiên tòa kết thúc, Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Trường hợp đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phát sinh tình tiết mới quy định tại Khoản 3 Điều 317 của Bộ luật tố tụng dân sự làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Thẩm phán xem xét, ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết; Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định.

2. Một số vấn đề Kiểm sát viên cần lưu ý khi thực hiện công tác kiểm sát giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn

Trước hết, Kiểm sát viên cần xác định rõ nợ xấu được xử lý có thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 42/2017 hay không. Để xác định vấn đề này, VKS có quyền yêu cầu TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC xác nhận bằng văn bản khoản nợ là nợ xấu theo quy định của Nghị quyết số 42/2017. Đồng thời phải xem xét, đối chiếu kỹ với Phụ lục về xác định nợ xấu ban hành kèm theo Nghị quyết này để xác định cho chính xác.

Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn: Chỉ có tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm (bên bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm không?) hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm (bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm không?) của khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC mới được áp dụng các điều kiện tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết để Toà án xem xét giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017 là được áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết (không cần đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật tố tụng dân sự).

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Tác giả: Trịnh Duy Tám - Nguồn: Phòng 10, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 330


Liên kết website