Các trường hợp Viện kiểm sát giải quyết bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày đăng: 01/08/2017  - Lượt xem: 412

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 20/6/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. Luật gồm 09 chương, 78 điều. So với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật năm 2017 đã sửa đổi 54/67 điều, bỏ 13 điều và quy định mới 24 điều.

Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (từ Điều 17 đến Điều 21), phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bao gồm 5 lĩnh vực hoạt động sau: Hoạt động quản lý hành chính, hoạt động tố tụng hình sự, hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, hoạt động thi hành án hình sự và hoạt động thi hành án dân sự. Đối với mỗi lĩnh vực hoạt động nêu trên, Luật quy định các cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường khác nhau.

Trong lĩnh vực hoạt động tố tụng hình sự, Luật quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là những cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường. Trách nhiệm của mỗi cơ quan được xác định rõ ràng, cụ thể tại các Điều 34, 35 và 36 của Luật.

Đối với Viện kiểm sát, theo quy định tại Điều 35 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, Viện kiểm sát là cơ quan giải quyết bồi thường trong 7 trường hợp sau đây:

Trường hợp thứ nhất: Đã phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhưng người bị bắt, bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;

Trường hợp thứ hai: Đã phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 34 của Luật (Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra bổ sung hoặc kết luận điều tra mới đề nghị truy tố nhưng Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm); đã quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng căn cứ kết quả điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

Trường hợp thứ ba: Đã ra quyết định truy tố bị can nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;

Trường hợp thứ tư: Tòa án cấp sơ thẩm quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

Trường hợp thứ năm: Tòa án cấp sơ thẩm quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng sau đó tuyên bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;

Trường hợp thứ sáu: Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

Trường hợp thứ bảy: Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và sau đó Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

Như vậy, so sánh với quy định tương ứng trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 (Điều 31), có thể thấy Luật mới đã có sự thay đổi về việc xác định cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường trong trường hợp Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Cụ thể:

Tại Khoản 2 Điều 31 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định “Viện kiểm sát đã phê chuẩn lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra mà sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định bị can không thực hiện hành vi phạm tội” thì cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường là Viện kiểm sát.

Theo quy định này, Viện kiểm sát phải chịu mọi trách nhiệm trong trường hợp Viện kiểm sát đã phê chuẩn lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra, trong khi đó lại chưa nâng cao được trách nhiệm của Cơ quan điều tra khi ra kết luận điều tra. Vì vậy, để khắc phục điều này, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã tách trường hợp “Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra bổ sung hoặc kết luận điều tra mới đề nghị truy tố nhưng Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm” thì cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường là Cơ quan điều tra (khoản 3 Điều 34).

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã quy định rõ ràng, cụ thể các trường hợp Viện kiểm sát có trách nhiệm giải quyết yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự. Để triển khai thực hiện tốt những quy định này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần giao trách nhiệm cho đơn vị đầu mối (vụ nghiệp vụ VKSND tối cao, Phòng nghiệp vụ VKSND tỉnh) có trách nhiệm tham mưu giúp lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp trong công tác quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện việc giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm của Viện kiểm sát./.

Tác giả: Trịnh Duy Tám - Nguồn: Phòng 10, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 412


Liên kết website