Tìm hiểu quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội

Ngày đăng: 01/08/2017  - Lượt xem: 597

Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật số 12/2017/QH14).

Mục tiêu chính của việc ban hành Luật này là khắc phục những điểm sai sót đã phát hiện được của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 nhằm bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán của BLHS, góp phần bảo đảm áp dụng thống nhất Bộ luật trong thực tiễn; đồng thời, bổ sung một số vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn sau khi BLHS năm 2015 được thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.

Một trong những nội dung rất quan trọng được sửa đổi, bổ sung trong Luật số 12/2017/QH14 là các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội, đó là các vấn đề liên quan đến phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015; Khoản 3 Điều 14 BLHS năm 2015); quy định về điều kiện để đương nhiên được xóa án tích (khoản 2 Điều 107 BLHS năm 2015).

1. Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 - khoản 3 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14):

BLHS năm 1999 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc  tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” (khoản 2 Điều 12).

BLHS năm 2015 thu hẹp phạm vi trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số loại tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê cụ thể tại khoản 2 Điều 12; riêng đối với 03 tội danh: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), tội hiếp dâm (Điều 141) và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169) thì phải chịu trách nhiệm hình sự cả về loại tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng. Quy định này không chỉ trái với nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội mà còn không bảo đảm tính thống nhất trong quy định pháp luật; đồng thời đi ngược lại với Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên.

Khắc phục những bất cập này, bảo đảm tính nhất quán về chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS năm 2015 (thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi), đồng thời phù hợp nguyên tắc“những lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu” đã được ghi nhận trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên. Tại Khoản 3 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 đã sửa đổi, bổ sung quy định tại Khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 như sau:

 “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này” (khoản 3 Điều 1).

Theo quy định trên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với 28 tội danh trong BLHS, gồm: Tội giết người (Điều 123), tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), tội hiếp dâm (Điều 141), tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), tội cưỡng dâm (Điều 143), tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (Điều 144), tôi mua bán người (Điều 150), tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151), tội cướp tài sản (Điều 168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170), tội cướp giật tài sản (Điều 171), tội trộm cắp tài sản (Điều 173), tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tải sản (Điều 178), tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248), tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252), tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 265), tội đua xe trái phép (Điều 266), tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 286), tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287), tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289), tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290), tội khủng bố (Điều 299), tội hủy hoại công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303), tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304).

2. Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trong trường hợp chuẩn bị phạm tội (khoản 3 Điều 14 BLHS năm 2015 - khoản 4 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14)

BLHS năm 1999 chỉ quy định khái quát là: “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện” (Điều 17).

BLHS năm 2015 quy định cụ thể người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 04 tội danh là: (1) tội giết người, (2) tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, (3) tội cướp tài sản và (4) tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (khoản 3 Điều 14).

Tuy nhiên, để phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm sự thống nhất về chính sách hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi khoản 3 Điều 14 BLHS năm 2015 theo hướng thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, cụ thể: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 02 tội danh là tội giết người và tội cướp tài sản (khoản 4 Điều 1).

3. Về điều kiện để đương nhiên được xóa án tích (khoản 2 Điều 107 BLHS năm 2015 - khoản 19 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14)

 BLHS năm 1999 quy định: “Thời hạn để xoá án tích đối với người chưa thành niên là một phần hai thời hạn quy định tại Điều 64 của Bộ luật này” (khoản 1 Điều 77).

 BLHS năm 2015 quy định: “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới” (khoản 2 Điều 107).

Luật số 12/2017/QH14 (Khoản 19 Điều 1) quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

 (1) 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

(2) 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

(3) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

(4) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm (khoản 19 Điều 1).

Như vậy, Luật số 12/2017/QH14 đã quy định rất cụ thể các trường hợp người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi được xóa án tích, bảo đảm tính nhất quán, đồng bộ và tạo thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật./.

Tác giả: Trịnh Duy Tám - Nguồn: Phòng 10, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 597


Liên kết website