Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của các đối tượng được trợ giúp pháp lý

Ngày đăng: 07/08/2017  - Lượt xem: 610

Được trợ giúp pháp lý là một trong những quyền quan trọng, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người bị buộc tội và người bị hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Do vậy, cùng với việc xác định theo hướng mở rộng đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) và các luật khác có liên quan, đặc biệt là Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng được trợ giúp pháp lý.

 Theo đó, tại Điều 71 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015  đã quy định cụ thể về trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ cho người tham gia tố tụng: “1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này. Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho họ quyền được trợ giúp pháp lý; nếu họ đề nghị được trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. 2. Việc thông báo, giải thích phải ghi vào biên bản”.

Tại khoản 3 Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương. Ngay sau khi nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có trách nhiệm thụ lý theo quy định tại khoản 4 Điều 30 của Luật này và cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng”. Đây là những nội dung mới nhằm bảo đảm quyền của người được trợ giúp pháp lý, cần hết sức lưu ý trong thực hiện, bởi với việc mở rộng phạm vi đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý, khi Luật này có hiệu lực thi hành, số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được cơ quan tiến hành tố tụng thông báo gửi Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước sẽ tăng lên nhiều.

Bên cạnh đó, tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm chỉ định người bào chữa đối với những đối tượng phạm tội thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Cụ thể:

“1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ: a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này: a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa; b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình”.

Như vậy, đối với những trường hợp phải chỉ định bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thuộc một trong số 14 đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư bào chữa cho họ.

Đối với Viện kiểm sát, để bảo đảm thực hiện tốt các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật Trợ giúp pháp lý, khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự, Kiểm sát viên cần lưu ý kiểm sát chặt chẽ việc giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cho đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 42 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và pháp luật tố tụng; việc thông báo yêu cầu trợ giúp pháp lý cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước theo đúng thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và việc chỉ định người chữa của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác đối với các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bảo đảm đúng đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Khi phát hiện có vi phạm, tùy từng trường hợp cụ thể, Kiểm sát viên thực hiện quyền yêu cầu, đề nghị hoặc tham mưu cho lãnh đạo Viện kiến nghị, kháng nghị đối với các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm thực hiện tốt quyền được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

Trong giai đoạn truy tố, Kiểm sát viên khi lấy lời khai của người bị buộc tội, bị can, người bị hại trong vụ án hình sự cần giải thích quyền được trợ giúp pháp lý cho họ và giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý theo đúng quy định tại Điều 42 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và pháp luật tố tụng; đồng thời hướng dẫn và cung cấp thông tin về địa chỉ của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để họ thực hiện quyền yêu cầu được trợ giúp pháp lý; Khi nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý phải thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước theo đúng thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 31 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017; Yêu cầu Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý đối với những trường hợp chỉ định người bào chữa trong giai đoạn truy tố đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bảo đảm đúng đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017./.

Tác giả: Trịnh Duy Tám - Nguồn: Phòng 10, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 610


Liên kết website