Phục hồi danh dự đối với người bị thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày đăng: 07/08/2017  - Lượt xem: 599

Cùng với việc bồi thường thiệt hại về vật chất thì phục hồi danh dự là vấn đề rất quan trọng. So với Luật năm 2009, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 20/6/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018) đã có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, dưới đây là những quy định của Luật về thủ tục phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại.

Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, việc phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại được quy định tại Mục 3 Chương V, từ Điều 56 đến Điều 59, gồm những vấn đề sau đây:

  1. Hình thức phục hồi danh dự:

Tại Điều 56 của luật quy định có hai hình thức phục hồi danh dự đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, đó là: (1) Trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai tại nơi cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc tại nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại; và (2) Đăng báo xin lỗi và cải chính công khai.

2. Đối tượng được phục hồi danh dự và thủ tục phục hồi danh dự

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã có quy định về phục hồi danh dự tại Điều 51 nhưng phạm vi phục hồi danh dự chỉ giới hạn trong lĩnh vực tố tụng hình sự và cơ quan có trách nhiệm bồi thường cũng chỉ thực hiện thủ tục này khi có đơn yêu cầu của người bị thiệt hại. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 đã có sửa đổi, bổ sung về phạm vi đối tượng được phục hồi danh dự và cơ quan quản lý trực tiếp người thi hành công vụ gây thiệt hại phải chủ động phục hồi danh dự, chứ không phải đến khi có yêu cầu mới thực hiện. Cụ thể:

Về phạm vi phục hồi danh dự : Việc phục hồi danh dự không chỉ cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự mà còn trong trường hợp "công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trái pháp luật" (khoản 1 Điều 31, khoản 2 Điều 56);

Về thủ tục phục hồi danh dự: Điều 57 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định: (1) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc kể từ ngày có bản án, quyết định quy định tại Điều 55 của Luật này có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người bị thiệt hại về việc Nhà nước tổ chức thực hiện phục hồi danh dự; (2) Trường hợp người bị thiệt hại đồng ý với nội dung trong thông báo thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện phục hồi danh dự theo quy định tại Điều 58 và Điều 59 của Luật này; (3) Trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với nội dung trong thông báo thì có ý kiến đề nghị cụ thể về nội dung đó để cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có cơ sở thực hiện phục hồi danh dự; (4) Trường hợp người bị thiệt hại đề nghị chưa thực hiện phục hồi danh dự thì việc phục hồi danh dự được thực hiện khi người bị thiệt hại có yêu cầu bằng văn bản; (5) Trường hợp người bị thiệt hại từ chối quyền được phục hồi danh dự theo quy định của Luật này thì không còn quyền yêu cầu phục hồi danh dự. Việc từ chối phải thể hiện bằng văn bản; trường hợp người bị thiệt hại từ chối quyền được phục hồi danh dự bằng lời nói thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại lập biên bản, trong đó ghi rõ việc từ chối quyền được phục hồi danh dự của người bị thiệt hại. Biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người bị thiệt hại; (6) Trường hợp người bị thiệt hại chết thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện việc đăng báo xin lỗi và cải chính công khai theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Đối với hình thức trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 56: (1) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự quy định tại Điều 41 hoặc Điều 57 của Luật này, Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm tổ chức trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai; (2) Thành phần tham gia buổi trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai bao gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Đối với hình thức đăng báo xin lỗi và cải chính công khai: Theo quy định Điều 59: (1) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự quy định tại Điều 41 hoặc Điều 57 của Luật này, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại ở trung ương có trách nhiệm đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên 01 tờ báo trung ương và 01 tờ báo địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại trong 03 số liên tiếp; đăng tải nội dung xin lỗi và cải chính công khai trên Cổng thông tin điện tử (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; (2) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự quy định tại Điều 41 hoặc Điều 57 của Luật này, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại ở địa phương có trách nhiệm đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên 01 tờ báo cấp tỉnh tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại trong 03 số liên tiếp; đăng tải nội dung xin lỗi và cải chính công khai trên Cổng thông tin điện tử (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; (3) Ngay sau khi đăng báo xin lỗi và cải chính công khai, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm gửi tờ báo đó tới người bị thiệt hại và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại để niêm yết công khai tại trụ sở./.

Tác giả: Trịnh Duy Tám - Nguồn: Phòng 10, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 599


Liên kết website