Một số kinh nghiệm áp dụng pháp luật về tính thời hạn xóa án tích

Ngày đăng: 12/09/2017  - Lượt xem: 490

Vấn đề: “Tính thời hạn xóa án tích để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với người phạm tội”, trên thực tế vẫn còn có nhiều vướng mắc dẫn đến việc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án không chính xác, có nhiều sai sót, vi phạm, dưới đây là một số trường hợp cụ thể:

1. Trường hợp đương nhiên xóa án tích quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự 2015

Tại khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 quy định: “Người bị kết án không phải về các tội quy định tại các Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn…”. Từ khi chấp hành xong bản án ở đây được hiểu là chấp hành xong tất cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án (căn cứ khoản 3 Điều 67 BLHS 1999). Tuy nhiên quy định này trong BLHS 2015 đã  được sửa đổi, bổ sung theo hướng có lợi cho người bị kết án, cụ thể:

Khoản 1 Điều 70 BLHS 2015 quy định: “Đương nhiên xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này”.

 Khoản 2 Điều 70 quy định: “Người bị kết án đương nhiên xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau…”.

Như vậy, theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 70 BLHS 2015 nêu trên, thời hạn để tính đương nhiên xóa án tích được xác định kể từ khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án nếu kể từ thời điểm đó đến hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS 2015, người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án, đồng thời không thực hiện hành vi phạm tội mới. Trường hợp đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án mà phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS 2015 thì không được tính để được đương nhiên xóa án tích.

2. Trường hợp một người có nhiều bản án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới

Dạng này chúng ta rất hay bị nhầm lẫn dẫn đến sai sót, cụ thể:

+ Thứ nhất: Một người có 02 tiền án (Trong đó, có 01 tiền án về tội cố ý gây thương tích; 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản), đều chưa được xóa án tích, lại phạm tội trộm cắp tài sản có trị giá dưới 2.000.000đ.

Trong trường hợp này thì tiền án về tội trộm cắp tài sản sẽ là yếu tố định tội, còn tiền án về tội cố ý gây thương tích được coi là tình tiết tăng nặng TNHS để áp dụng đối với bị can, bị cáo.

+ Thứ hai: Một người có 03 tiền án đều về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích lại phạm tội trộm cắp tài sản có trị giá dưới 2.000.000đ.

Căn cứ khoản 2 Điều 48 BLHS 1999 và mục 7.3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định:

Khoản 2 Điều 48 BLHS 1999: “Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”.

Mục 7.3 NQ số 01: Khi áp dụng tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, cần phân biệt:

          a. Trường hợp các tiền án của bị cáo đã được xem là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” thì các tiền án đó không được tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo.

Như vậy, trong trường hợp này 03 tiền án trên chỉ là yếu tố định tội.

          + Thứ ba: Một người có 02 tiền án, bản án thứ 02 đã xác định “Tái phạm”. Nếu áp dụng Điều 70 BLHS 2015, tính đến thời điểm phạm tội của lần phạm tội thứ hai thì thời hạn xóa án tích của bản án thứ nhất đương nhiên được xóa án tích. Vậy việc truy tố, xét xử đối với lần phạm tội mới này có được coi là tái phạm nguy hiểm nữa không?.

          Ví dụ: Nguyễn Văn A đã có 02 tiền án. Bản án số 10 ngày 27/02/1998 xử phạt A 5 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản XHCN” và tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. A chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 29/3/2003, phần án phí và bồi thường chấp hành xong vào tháng 02/2010. Ngày 08/3/2013, A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt quả tang. Bản án số 99 ngày 24/7/2013 đã áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999, xử phạt A 03 năm tù. A chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 08/10/2015. Ngày 24/9/2016 A tiếp tục phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị bắt quả tang. Bản án số 11 ngày 17/02/2017 nhận định A phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích được coi là “tái phạm nguy hiểm”. Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999, xử phạt A 08 năm tù.

          Với nội dung vụ án và quá trình tố tụng như nêu trên, có quan điểm cho rằng: Bản án số 10 năm 1998 xử phạt A 5 năm tù, A chấp hành xong bản án vào tháng 02/2010. Để có lợi cho người phạm tội, nếu áp dụng Điều 70 BLHS 2015 (thời hạn xóa án tích là 03 năm) thì bản án này được xóa án tích vào tháng 02/2013. Như vậy lần phạm tội này của A chỉ bị coi là “tái phạm” chứ không phải là “tái phạm nguy hiểm”, và chỉ bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 194 BLHS.

          Tuy nhiên trong trường hợp này, Bản án số 99 ngày 24/7/2013 đã xác định “Tái phạm” và áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 đối với A. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 49 BLHS xác định, do A đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên phải bị coi là “tái phạm nguy hiểm”. Bản án số 11 ngày 17/02/2017 nhận định A phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích được coi là “tái phạm nguy hiểm” để xét xử đối với A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS 1999 là đúng quy định của pháp luật.

          + Thứ tư: Một người có 03 tiền án, đến thời điểm phạm tội mới thì 02 tiền án xét xử sau đã đương nhiên xóa án tích, nhưng bản án xét xử đầu tiên chưa được xóa án tích thì tính như thế nào?

Ví dụ: Năm 1998 Nguyễn Văn B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Bản án số 139 ngày 21/11/1998 xử phạt 07 năm tù và phạt bổ sung 20.000.000đ, B chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 06/9/2004, hình phạt bổ sung được miễn ngày 17/02/2016. Ngày 26/5/2008 B tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Bản án số 57 ngày 26/8/2008 áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS, xử phạt B 18 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 27/8/2009. Ngày 15/4/2011 B lại phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Bản án số 02 ngày 12/01/2012 áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS, xử phạt B 48 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 15/9/2014. Đến ngày 01/11/2016 B lại phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị bắt quả tang. Bản án số 15 ngày 28/02/2017 nhận định bị cáo đã được xóa án tích nên áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, xử phạt B 03 năm tù.

Với nội dung vụ án và nhân thân của B như nêu trên, để áp dụng có lợi cho người phạm tội, trong trường hợp này, căn cứ vào Điều 70 và Điều 73 BLHS 2015 (thời hạn xóa án tính là 02 năm), thì bản án số 57 ngày 26/8/2008 và bản án 02 ngày 12/01/2012 được coi là đã xóa án tích, nhưng còn bản án số 139 năm 1998 chưa được xóa án tích vì:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 73 BLHS năm 2015;

“2. … thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách của án treo của bản án mới…”;

Như vậy Bản án số 139 ngày 21/11/1998 xử phạt B 07 năm tù thì thời hạn để được xóa án tích của bản án này là 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù của bản án mới (Bản án số 02 ngày 12/01/2012) là ngày 15/9/2014 thì đến ngày 15/9/2017 mới được xóa án tích. Nhưng đến ngày 01/11/2016 B lại phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tức là B đã phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên vẫn bị coi là “Tái phạm”.

          + Thứ năm: Một người có 03 tiền án, những lần phạm tội trước đây đều đã trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, Bản án thứ ba đã xác định “Tái phạm nguy hiểm”. Nếu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS năm 2015 thì những lần phạm tội trước đây được coi là không có án tích. Vậy việc truy tố, xét xử đối với lần phạm tội mới này có được coi là tái phạm nguy hiểm nữa không?

Ví dụ: Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 30/03/1992, đã có 03 tiền án. Bản án số 07 ngày 27/11/2009 xử phạt Đ 04 tháng 15 ngày tù cho hưởng án treo, thử thách 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản” (Khi phạm tội Đ mới 17 tuổi 6 tháng 9 ngày). Bản án số 32 ngày 23/6/2010 xử phạt Đ 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 04 tháng 15 ngày tù của Bản án số 07, buộc Đ phải chấp hành hình phạt chung là 02 năm 10 tháng 15 ngày tù (bản án này xác định Đ “Tái phạm”). Bản án số 44 ngày 19/11/2010 xử phạt Đ 03 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp với hình phạt 02 năm 10 tháng 15 ngày tù của bản án số 32, buộc Đ phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 10 tháng 15 ngày tù. Đ chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 23/12/2015 (bản án này xác định Đ “Tái phạm nguy hiểm”).

Sau khi ra trại, từ ngày 14/02/2016 đến ngày 14/6/2016, Đ liên tục thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, gây thiệt hại 167.780.000đ.

          Với nội dung vụ án và nhân thân của Đ như nêu trên, nếu theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), thì Đ thuộc trường hợp đã “Tái phạm nguy hiểm” mà lại tiếp tục phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích thì phải truy tố, xét xử theo điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS.

Tuy nhiên trong trường hợp này, khi phạm tội ở những bản án trước, Đ là người chưa thành niên. Theo khoản 1 Điều 107 BLHS năm 2015 quy định:

“1. Coi là không có án tích trong các trường hợp:

a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;

b) Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiệm trọng do vô ý;

c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này”.

Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 (áp dụng có lợi cho người phạm tội), thì chúng ta phải căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS 2015 để xác định Nguyễn Văn Đ không có án tích đối với bản án số 07 ngày 27/11/2009 và bản án số 32 ngày 23/6/2010.

Tác giả: Nguyễn Văn Nhâm - Nguồn: Phòng 7, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 490

Tin bài cùng chuyên mục


Liên kết website