Vướng mắc, bất cập trong xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất để thu hồi nợ cho ngân hàng

Ngày đăng: 09/11/2017  - Lượt xem: 334

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu vay vốn ngân hàng của tổ chức, cá nhân đang ngày càng lớn, kéo theo đó cũng phát sinh nhiều vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng do bên vay vốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Qua thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại thấy, quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm đang ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi để Tòa án các cấp áp dụng giải quyết tranh chấp có căn cứ, đúng pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Nhưng bên cạnh đó cũng còn những vướng mắc, bất cập, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Tác giả xin nêu một vụ án cụ thể để phân tích làm rõ bất cập này.

Ngày 06/9/2011, Ngân hàng  thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Chi nhánh BX (Ngân hàng) ký hợp đồng tín dụng cho hộ gia đình là bà L vay 1.000.000.000 đồng. Tài sản bảo đảm là diện tích đất 115m2 cùng 01 nhà hai tầng diện tích 230m2 và toàn bộ công trình xây dựng trên đất (tài sản này được các bên định giá trong hồ sơ thế chấp là 1.500.000.000 đồng). Sau khi vay, bên vay vốn không trả được nợ cho Ngân hàng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc từ ngày 06/9/2012. Theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và hộ vay vốn, ngày 25/10/2013, Ngân hàng đã nhận bàn giao tài sản bảo đảm nêu trên của bên vay vốn để xử lý thu hồi nợ, đến ngày 16/01/2015, Ngân hàng thông qua tổ chức bán đấu giá tài sản đã bán được tài sản bảo đảm với giá 663.000.000 đồng, sau khi trừ chi phí bán đấu giá, tiền thuê trông giữ tài sản trong thời gian chờ bán đấu giá, số tiền còn lại Ngân hàng thu vào tiền nợ gốc là 580.105.000 đồng, số tiền gốc còn nợ 419.895.000 đồng và tiền lãi phát sinh bên vay vốn không trả được nên Ngân hàng khởi kiện. Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng, Tòa án đã giải quyết buộc bà L phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến hết ngày 11/8/2016 là 1.019.956.692 đồng, trong đó tiền gốc 419.895.000 đồng, tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn là 600.061.692 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 12/8/2016 đối với số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận của hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

         Vấn đề đặt ra là việc Tòa án buộc bên vay vốn phải trả cho Ngân hàng toàn bộ tiền lãi (gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn) của 1.000.000.000 đồng tiền nợ gốc từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ (ngày 6/9/2012) đến ngày bán được tài sản bảo đảm (ngày 16/01/2015) là có căn cứ hay không và có bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của bên vay vốn hay không? Bởi lẽ, ngày 25/10/2013, gia đình bà bà L đã bàn giao toàn bộ tài sản thế chấp cho Ngân hàng. Theo thỏa thuận, Ngân hàng được toàn quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, nhưng đến ngày 16/01/2015 (sau gần 15 tháng kể từ ngày nhận bàn giao tài sản), Ngân hàng mới bán được tài sản để thu hồi nợ. Việc bán đấu giá tài sản chậm thuộc trách nhiệm của Ngân hàng, việc này đã gây hậu quả bất lợi cho người có tài sản bảo đảm là bà L.

        Theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 274 Bộ luật dân sự 2015), nghĩa vụ dân sự bao gồm nghĩa vụ chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác. Như vậy, Bộ luật dân sự quy định có nhiều phương thức để thực hiện nghĩa vụ tài sản. Do đó, có thể hiểu, khi bên vay vốn tự nguyện bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng để xử lý thu hồi nợ thì họ đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ từ thời điểm bàn giao tài sản tương ứng với số tiền bán được tài sản bảo đảm (trong trường hợp cụ thể này là 580.105.000 đồng); mặt khác, xét về yếu tố lỗi (một yếu tố bắt buộc Tòa án phải xem xét khi giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ dân sự) thì kể từ thời điểm bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng, bên vay không có lỗi trong việc chậm thực hiện nghĩa vụ tài sản, vì vậy không thể buộc bên vay vốn phải chịu lãi trên số nợ gốc trong thời gian Ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm. Điều này cũng phù hợp với nội dung được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-TCĐC ngày 23/4/2001, hướng dẫn thi hành Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. Theo hướng dẫn tại mục 1 phần VIII của Thông tư này, việc thanh toán thu nợ được thực hiện theo thứ tự sau: Các chi phí cần thiết để xử lý tài sản bảo đảm; thuế và các khoản phí nộp ngân sách nhà nước (nếu có); nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn tính đến ngày bên bảo đảm hoặc bên giữ tài sản giao tài sản cho tổ chức tín dụng để xử lý.

        Theo Quyết định số 480/QĐ-BTP ngày 03/3/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013, Thông tư liên tịch số 03 không còn hiệu lực vì đây là thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 178/1999/NĐ-CP nhưng nghị định này đã được thay thế và bãi bỏ bởi Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ. Tuy nhiên, trong Nghị định số 163 và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 lại không có điều khoản nào quy định về vấn đề này, do vậy để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bên vay vốn, cần vận dụng quy định trong Thông tư liên tịch số 03 nêu trên để giải quyết theo hướng không buộc bên vay vốn phải chịu lãi trên toàn bộ số nợ gốc và lãi chậm trả kể từ thời điểm bên vay bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng xử lý để thu hồi nợ là phù hợp, với hai lý do:

Một là, xét về yếu tố lỗi, kể từ thời điểm bàn giao tài sản, bên vay vốn hoàn toàn không có lỗi;

Hai là, về giá trị tài sản bảo đảm, khi ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, giữa Ngân hàng và bên vay vốn đã thống nhất thỏa thuận xác định giá trị tài sản bảo đảm là 1.500.000.000 đồng, tức là tài sản bảo đảm có giá trị lớn hơn 1,5 lần số tiền được vay. Trong khi đó, khi xử lý tài sản bảo đảm, trong thời gian gần 15 tháng với 5 lần đấu giá, tài sản trên cũng chỉ bán được 663.000.000 đồng, thấp hơn rất nhiều so với giá trị các bên đã định giá khi làm thủ tục vay vốn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc chậm bán đấu giá tài sản là do khi làm thủ tục vay vốn, Ngân hàng đã định giá tài sản không sát với giá thị trường dẫn đến khó khăn khi bán đấu giá. Vì khi tiến hành bán đấu giá tài sản, cơ quan thẩm định giá xác định giá khởi điểm thấp hơn nhiều so với giá Ngân hàng xác định khi thẩm định hồ sơ vay vốn mà vẫn không bán được, phải liên tục giảm giá đến phiên thứ 5 mới bán được tài sản. Như vậy, có thể khẳng định, việc chậm bán đấu giá tài sản là do lỗi của Ngân hàng ngay từ khi thẩm định hồ sơ vay vốn đã định giá tài sản quá cao so với giá thị trường. Từ việc chậm bán đấu giá tài sản còn dẫn đến hậu quả là bên vay vốn phải chịu khoản tiền thuê trông giữ tài sản bảo đảm trong thời gian chờ bán đấu giá số tiền 42.000.000 đồng đã gây thiệt rất lớn cho bên vay vốn. Tiếc rằng những vấn đề này lại không được Tòa án các cấp (cả sơ thẩm và phúc thẩm) xem xét một cách thấu đáo khi giải quyết vụ án.

Thiết nghĩ đây là bất cập của pháp luật hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại và gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại cần được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn./.

Tác giả: Trịnh Duy Tám - Nguồn: Phòng 10, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 334

Tin bài cùng chuyên mục


Liên kết website