Một số khó khăn, vướng mắc qua thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp

Ngày đăng: 23/05/2018  - Lượt xem: 170

Công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng kiểm sát của Ngành KSND. Căn cứ vào Quy chế 51 và các đạo luật hiện hành, VKSND tỉnh Vĩnh Phúc đã nghiêm túc triển khai công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp nhưng trong thực tiễn áp dụng vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần được giải quyết để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác này.

1. Khó khăn, vướng mắc về quy định và áp dụng pháp luật trong việc thực hiện công tác kiểm sát:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 475 BLTTHS năm 2015 thì: “… Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra… do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết ttrong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết… người khiếu nại có quyền khiếu nại… . Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng VKS cấp trên… phải xem xét giải quyết… (quy định này giống với quy định tại Điều 329 BLTTHS năm 2003).

Với thời gian quy định như nêu trên thì VKS thường gặp khó khăn trong việc giải quyết, đặc biệt là đối với trường hợp VKS cấp trên giải quyết khiếu nại lần 2, bởi lẽ quy định 07 ngày (đối với VKS cùng cấp), 15 ngày (đối với VKS cấp trên) là kể cả thứ bảy, chủ nhật, đồng thời để có cơ sở xem xét tính đúng đắn của quyết định cần có hồ sơ vụ án, VKS cấp trên phải rút hồ sơ từ cấp dưới lên nghiên cứu nên việc giải quyết dễ dẫn đến quá hạn.

2. Khó khăn, vướng mắc trong việc lựa chọn biện pháp tác động đối với đơn vị được kiểm sát

Theo Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014, khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, trong đó có kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn “…yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm; … kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp”. Đây là quy định mang tính nguyên tắc về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc ban hành kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu khi thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Để xác định thẩm quyền ban hành kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát trong từng trường hợp cụ thể, cần căn cứ quy định của BLTTHS, BLTTDS, Luật TTHC, Luật THADS, Luật THAHS, khoản 4, Điều 18 Quy chế số 51 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Theo đó, thẩm quyền kháng nghị chỉ áp dụng khi tiến hành biện pháp trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, do đó chỉ áp dụng trong tố tụng hình sự và thi hành án hình sự.

Tuy nhiên, các văn bản nêu trên chỉ quy định việc thực hiện quyền kháng nghị hoặc kiến nghị trong lĩnh vực nào và khi áp dụng biện pháp kiểm sát nào, còn tiêu chí để lựa chọn ban hành kháng nghị hay kiến nghị thì chưa có quy định. Để tháo gỡ vướng mắc này, Điều 5 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định mang tính nguyên tắc về tiêu chí phân biệt giữa quyền kháng nghị với quyền kiến nghị, đó là căn cứ vào tiêu chí “mức độ vi phạm”, cụ thể là: “1. Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị...2. Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật…”.

Như vậy, tiêu chí để phân biệt giữa quyền kháng nghị với quyền kiến nghị là“mức độ vi phạm” của cơ quan được kiểm sát. Theo đó, đối với những vi phạm có tính chất ít nghiêm trọng, Viện kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị, đối với những vi phạm có tính chất nghiêm trọng, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, dạng vi phạm nào được coi là ít nghiêm trọng để thực hiện quyền kiến nghị; dạng vi phạm nào được coi là nghiêm trọng để thực hiện quyền kháng nghị. Đây chính là vướng mắc cho tất cả các khâu công tác, trong đó có công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Do pháp luật không quy định, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng chưa có hướng dẫn về vấn đề này nên việc đánh giá hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức của mỗi Viện kiểm sát khi xác định tính chất của vi phạm.

3.  Khó khăn, vướng mắc trong việc xác định phạm vi công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp

Hiện nay, một số Viện kiểm sát còn lúng túng trong việc xác định phạm vi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, chưa xác định được đầy đủ những hoạt động nào trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp là đối tượng phải xem xét, kết luận.

Phạm vi của kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo là giới hạn khi Viện kiểm sát thực hiện chức năng. Xác định đúng phạm vi có vai trò rất quan trọng,  tránh cho Viện kiểm sát không vượt quá quyền hạn của mình. Phạm vi kiểm sát chỉ giới hạn trong quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, tức là từ giai đoạn thụ lý vụ việc cho đến giai đoạn tổ chức thi hành các văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật (quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận tố cáo hoặc các văn bản khác theo quy định) - đây là giới hạn mang tính nguyên tắc trong phạm vi kiểm sát. Sở dĩ xác định giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo là việc tổ chức thi hành các văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật, vì theo quy định của một số văn bản pháp luật, những người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo phải bảo đảm kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết của mình. Do đó, Viện kiểm sát cần phải kiểm sát cả giai đoạn tổ chức thi hành văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật.

Các hoạt động tiếp công dân, phân loại, xử lý đơn của các cơ quan tư pháp không phải là hoạt động thuộc quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, do đó không thuộc phạm vi kiểm sát. Tuy nhiên, để tránh việc các cơ quan tư pháp bỏ lọt không thụ lý những đơn thuộc thẩm quyền, cần phải kiểm tra việc phân loại, xử lý và việc tiếp công dân (vì trong quá trình tiếp công dân cũng có việc phân loại, xử lý đơn). Nhưng cũng cần nhận thức rõ đây không phải là việc Viện kiểm sát kiểm sát công tác tiếp công dân và phân loại, xử lý đơn của các cơ quan tư pháp, mà thực chất là chỉ kiểm tra Sổ tiếp công dân hoặc Sổ tiếp nhận đơn, đối chiếu với Sổ thụ lý đơn để xác định trong quá trình phân loại, xử lý, cơ quan tư pháp đã thụ lý đầy đủ hay bỏ lọt không thụ lý đơn thuộc thẩm quyền. Vì vậy, cần nhận thức đúng vấn đề này để khi kết thúc kiểm sát, chỉ kết luận cơ quan tư pháp đã thụ lý đầy đủ hay còn bỏ lọt đơn thuộc thẩm quyền, không kết luận việc tiếp công dân và phân loại, xử lý đơn.

Từ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp nêu trên thấy, cần hoàn thiện hơn nữa những quy định của pháp luật về công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác này. Đồng thời, cán bộ được phân công thực hiện công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp cần tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn để phát huy tối đa năng lực nghiệp vụ, bảo đảm chất lượng công tác kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Tác giả: Cao Hồng Linh - Nguồn: Phòng 12, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 170

Tin bài cùng chuyên mục


Liên kết website