Một số vướng mắc, bất cập trong việc kê biên tài sản để thi hành án

Ngày đăng: 14/10/2019  - Lượt xem: 81

Kê biên tài sản là hoạt động liệt kê, ghi lại những tài sản thuộc sở hữu của chủ tài sản, là một trong những biện pháp cưỡng chế cần thiết để bảo đảm cho hoạt động thi hành án đạt hiệu quả. Nhưng việc thực hiện biện pháp này còn nhiều vướng mắc, bất cập.

Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản được thực hiện khi người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tiền hoặc tài sản, họ có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành. Qua thực tiễn công tác kiểm sát việc kê biên tài sản trong thi hành án dân sự hiện nay còn nhiều bất cập. Cụ thể,

Thứ nhất, một số quy định của pháp luật cho thấy tài sản của người phải thi hành án đã bị kê biên nhưng vẫn chưa bảo đảm cho việc thi hành án

Tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC – VKSNDTC ngày 26/7/2010 quy định: “Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì Cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án”.

Tại Điều 24, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy định:

1. Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi kê biên tài sản, nếu có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật thi hành án dân sự (Khởi kiện ra Tòa án để giải quyết tranh chấp).

Trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án; Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó.

2. Việc kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác được thực hiện như sau:

a) Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của đương sự…

 b) Trường hợp người phải thi hành án có chung tài sản với người khác mà … chưa xác định được phần quyền của người phải thi hành án thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự (Phải thông báo để họ tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết).

c) Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ chồng… hoặc sở hữu, sử dụng chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo Luật Hôn nhân và Gia đình, … hoặc theo số lượng từng thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản… Trường hợp đương sự hoặc người liên quan không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì … yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung…

3. Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp… thì Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng, hoặc khi xử lý tài sản phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết…”.

Như vậy, Chấp hành viên phải xác minh quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người phải thi hành án thì mới được kê biên tài sản. Giả sử, nếu tài sản được chuyển quyền sở hữu sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì việc kê biên không phải là căn cứ để giao dịch này vô hiệu và sẽ càng khó hơn khi người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng không có tranh chấp về tài sản. Trường hợp người được thi hành án chưa có đơn yêu cầu, Cơ quan thi hành án chưa thụ lý giải quyết vụ việc thì sẽ chưa có hoạt động kê biên tài sản, thì bản án, quyết định của Tòa án không phải là căn cứ để hạn chế quyền về tài sản đối với chủ sở hữu (người phải thi hành án). Do vậy, kể cả khi có bản án thì giao dịch của người phải thi hành án và người nhận chuyển nhượng vẫn là hợp pháp vì lúc này chưa thể kết luận giao dịch đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án để hủy hợp đồng (trừ khi là giao dịch giả tạo). Khi đó, để hủy giao dịch này là rất khó khăn, chưa nói đến việc Chấp hành viên phải có thời gian để xác minh quyền về tài sản thì đương sự cũng đủ thời gian để thực hiện giao dịch. Hoặc kể cả khi kê biên tài sản đã chuyển nhượng trong trường hợp trên thì người trúng đấu giá tài sản rất khó bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án vì người nhận chuyển nhượng tài sản vẫn là hợp pháp.

Trường hợp người phải thi hành án dùng tiền bán tài sản để thi hành án cũng sẽ gặp bất cập khi các bên thỏa thuận “hợp pháp” giá tài sản thấp để trốn tránh nghĩa vụ.

Thứ hai, khó khăn trong việc giao tài sản cho người trúng đấu giá

Khi người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản để thi hành án. Việc kê biên bán đấu giá một phần tài sản tương ứng với nghĩa vụ thi hành án hoặc toàn bộ tài sản để bảo đảm giá trị của tài sản (theo Khoản 1 Điều 13, Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ) là hoạt động rất khó khăn vì đương sự thường cản trở, trốn tránh thi hành án.

Tuy nhiên, đối với những tài sản đã bán đấu giá thành mà gia đình người phải thi hành án thuộc diện chính sách, hoặc có người già, người bệnh hoặc là tài sản duy nhất của nhiều người sống trong hộ gia đình… thì việc cưỡng chế họ ra khỏi nhà để giao tài sản cho người trúng đấu giá còn khó khăn hơn rất nhiều, kể cả thuê được nơi ở mới cho người phải thi hành án thì họ vẫn cố tình không chấp hành với nhiều lý do. Nếu cưỡng chế họ ra khỏi nhà thì sẽ gây ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh trật tự hoặc vấn đề về an sinh xã hội…, không tránh khỏi đơn thư khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp.

Hiện tại, pháp luật vẫn chưa có quy định nào cho việc cưỡng chế kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, nhà đang ở thì tài sản phải được giao ngay cho Cơ quan thi hành án dân sự hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý để thực hiện việc thẩm định giá và bán đấu giá tài sản. Thực tế, khi nhà và đất đã kê biên không có người sử dụng sẽ dễ bán và bán được giá hơn rất nhiều so với tài sản có chủ đang sử dụng, đây cũng là lợi thế của người phải thi hành án. Tuy nhiên, Cơ quan thi hành án dân sự chưa thể thực hiện việc này do pháp luật không quy định cụ thể.

Tác giả: Mầu Mai Quyên Phòng 11, VKSND tỉnh Vĩnh Phúc - Nguồn: - Số lần được xem: 81