Kháng nghị bản án sơ thẩm do giải quyết yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm không đúng thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp

Ngày đăng: 28/06/2018  - Lượt xem: 270

VKSND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Quyết định số 750 kháng nghị đối với Bản án sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 25/5/2018 của TAND huyện Bình Xuyên, đề nghị cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm do giải quyết yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm không đúng với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp.

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 25/5/2018 của TAND huyện Bình Xuyên đã quyết định buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại, Vật tư, Xây dựng và Phát triển nông thôn Thanh Hương phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Chi nhánh Bình Xuyên số tiền tính đến ngày 25/5/2018 (cả gốc và lãi) là 7.425.727.084 đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 26/5/2018 theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ.

Trường hợp Công ty Thanh Hương không trả được nợ, Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mại 3 tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo các hợp đồng thế chấp tài sản, gồm:

- Các tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 514, tờ bản đồ số 13, diện tích theo sơ đồ hiện trạng là 5.637m2 và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 477, tờ bản đồ số 13, diện tích theo sơ đồ hiện trạng là 4.844,8m2 đều ở tại sứ Đồng Hàng, xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên, nguồn gốc đất thuê có trả tiền thuê đất hàng năm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh Vĩnh Phúc cấp cho Công ty Thanh Hương;

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 403, tờ bản đồ số 45, diện tích 128,7m2 ở Tổ dân phố số 6, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, giấy chứng nhận QSD đất do UBND thành phố Hà Nội cấp cho ông Trương Quang Nguyễn.

Theo kháng nghị của VKS tỉnh xác định, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mại tài sản bảo đảm không đúng quy định tại Điều 293 Bộ luật dân sự và nội dung thỏa thuận của các bên khi ký kết hợp đồng thế chấp. Cụ thể, để bảo đảm cho khoản vay 5.000.000.000 đồng của Công ty Thanh Hương, giữa Ngân hàng, Công ty Thanh Hương và bên thứ ba đã ký kết 03 hợp đồng thế chấp tài sản (gồm 2 tài sản gắn liền với diện tích đất thuê có trả tiền thuê đất hằng năm của Công ty Thanh Hương; 01 tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Trương Quang Nguyễn). Mỗi tài sản bảo đảm cho một khoản vay nhất định, gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các khoản phí theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trong đó, tài sản gắn liền với thửa đất số 514, tờ bản đồ số 13, diện tích 5.637m2 có giá trị 3.752.900.000 đồng, bảo đảm cho khoản vay 2.500.000.000 đồng; tài sản gắn liền với thửa đất số 477, tờ bản đồ số 13, diện tích 4844,8m2 có giá trị 1.081.000.000 đồng, bảo đảm cho khoản vay 500.000.000 đồng; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Trương Quang Nguyễn tại thửa số 403, tờ bản đồ số 45, diện tích 128,7m2 có giá trị 2.957.000.000 đồng, bảo đảm cho khoản vay 2.000.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty Thanh Hương đã trả được một phần nợ gốc là 20.000.000 đồng; trả lãi của khoản vay 2.900.000.000 đồng đến ngày 24/02/2015 và trả lãi của khoản vay 2.100.000.000 đồng đến ngày 20/02/2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc Công ty Thanh Hương trả số nợ gốc 4.980.000.000 đồng, lãi trong hạn 1.726.695.834 đồng, lãi quá hạn 719.031.250 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc Công ty Thanh Hương phải trả nợ và phát mại các tài sản bảo đảm, trong đó có tài sản là QSD đất và tài sản gắn liền với đất của ông Trương Quang Nguyễn (bên thứ ba) nếu Công ty Thanh Hương không trả được nợ cho Ngân hàng mà chưa làm rõ tại thời điểm xét xử, các khoản dư nợ (gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn) tương ứng với từng tài sản bảo đảm mà Ngân hàng yêu cầu xử lý phát mại là bao nhiêu? Trên cơ sở đó quyết định cho Ngân hàng được phát mại tài sản để thu hồi nợ tương ứng với giá trị dư nợ gốc được bảo đảm trong từng hợp đồng thế chấp là giải quyết không đúng với thỏa thuận của các bên nêu tại Điều 2 của các hợp đồng thế chấp, vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 293 BLDS 2015 (Khoản 1 Điều 319 BLDS 2005) về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm, điều luật quy định: “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại”.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định cho Ngân hàng được phát mại các tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ nhưng không có sơ đồ kích thước các chiều cạnh của thửa đất kèm theo bản án là chưa bảo đảm cho công tác thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tác giả: Trịnh Duy Tám - Nguồn: Phòng 10, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 270

Tin bài cùng chuyên mục


Liên kết website