Một số vấn đề cần chú ý khi xác định án tích của người bị két án theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngày đăng: 13/11/2020  - Lượt xem: 53

Xóa án tích là một trong những chế định quan trọng của Bộ luật hình sự, có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt.

            Chế định xóa án tích được quy định từ Điều 70 đến Điều 73 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Do vậy, việc xác định người phạm tội đã được xóa án tích hay chưa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt. Theo quy định của Bộ luật hình sự, xóa án tích bao gồm đương nhiên xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án và xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Bộ luật hình sự cũng quy định cụ thể cách tính thời gian để xóa án tích. Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về xóa án tích, do chưa nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật dẫn đến một số trường hợp xác định án tích không đúng. Dưới đây là một số vụ án cụ thể Tòa án xác định án tích không đúng gây bất lợi cho người bị kết án.

           Vụ thứ nhất, Bản án hình sự sơ thẩm số 50 ngày 26/12/2019 của TAND huyện Y xét xử bị cáo B, phạm tội “Đánh bạc”. Tòa án đã áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm p khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65 BLHS 2015, xử phạt bị cáo B 06 tháng tù, tổng hợp với 09 tháng tù của Bản án số 105 ngày 21/12/2018 của TAND tỉnh P, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 03 tháng tù.

            Trong vụ án này, Tòa án nhân dân huyện Y xác định bị cáo B có 01 tiền án, bởi trước đó, ngày 21/12/2018, B đã phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 260 BLHS và bị TAND tỉnh P tuyên phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng.

           Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo B là không đúng, gây bất lợi cho bị cáo, vì theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLHS, Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích….”. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS có khung hình phạt cao nhất đến 5 năm tù nên bị cáo B được coi là không có án tích.

           Vụ thứ hai, Bản án hình sự sơ thẩm số 44 ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện T xét xử bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tòa án đã áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo H 02 năm tù.

Trong vụ án này, phần nhận định của bản án sơ thẩm xác định bị cáo có 03 tiền án, tuy nhiên theo quy định của pháp luật thì bị cáo chỉ có hai tiền án, còn Bản án số 43/2014/HSST ngày 26/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện T xét xử bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, là tội ít nghiêm trọng, tính đến ngày phạm tội, bị cáo H mới 17 tuổi, 4 tháng 27 ngày, dưới 18 tuổi (bị cáo sinh ngày 26/7/1996, ngày phạm tội mới là 23/12/2013), theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015, H thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích.

          Thông qua 2 vụ án trên thấy, để xem xét để xác định bị cáo đã được xóa án tích hay chưa, ngoài việc xem xét các tài liệu chứng cứ để xác định người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án cũng như các quy định về thời hạn được xóa án tích theo quy định của Bộ luật hình sự, cần chú ý một số trường hợp được coi như không có án tích theo quy định của Bộ luật hình sự, đó là trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội và bị kết án; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; người kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt.

Tác giả: Nguyễn Thị Văn - Phòng 7, Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc - Nguồn: - Số lần được xem: 53


Liên kết website