Kinh nghiệm trực tiếp kiểm sát đối với cơ quan thi hành án dân sự

Ngày đăng: 28/04/2022  - Lượt xem: 39

Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự tại cơ quan thi hành án dân sự là trách nhiệm, quyền hạn và là một trong các phương thức để kiểm sát việc thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án. Trên thực tế, trực tiếp kiểm sát là phương thức kiểm sát hiệu quả nhất giúp cho VKSND các cấp phát hiện đầy đủ, toàn diện vi phạm của chấp hành viên, cơ quan THADS trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Trực tiếp kiểm sát hoạt động THADS cùng cấp và cấp dưới là một trong những chỉ tiêu nghiệp vụ cơ bản được ghi nhận trong chương trình, kế hoạch công tác kiểm sát hàng năm của VKSND các cấp. Vì vậy, công tác này luôn được VKSND tỉnh quan tâm, chú trọng. Hàng năm, VKSND tỉnh đều tiến hành trực tiếp kiểm sát 02 cuộc tại Cục THADS tỉnh và ít nhất 02 cuộc đối với Chi cục THADS cấp huyện. Qua đó, đã đạt được những kết quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND tỉnh Vĩnh Phúc.

Để các cuộc trực tiếp kiểm sát đạt được hiệu quả, chất chất lượng cao cần tiến hành theo các bước sau:

1. Công tác chuẩn bị tiến hành trực tiếp kiểm sát: Trước khi tiến hành trực tiếp kiểm sát, VKSND các cấp cần làm tốt công tác chuẩn bị trực tiếp kiểm sát như: Chủ động nắm thông tin về vi phạm trong hoạt động THADS từ nhiều nguồn (từ đơn khiếu nại, tố cáo; báo, đài; các cuộc họp giao ban hoặc từ các đơn vị nghiệp vụ của VKS…). Đây là những kênh thông tin quan trọng để nắm tồn tại, vi phạm của cơ quan THADS.

Xác định việc và căn cứ pháp luật để tiến hành kiểm sát: Từ các thông tin đã thu thập được, VKSND phân tích, tìm ra những điểm có vi phạm với mục đích để kiểm tra làm rõ, kết luận về vi phạm. Thông thường, nội dung trực tiếp kiểm sát được xác định là toàn bộ hoạt động THADS của chấp hành viên, cơ quan THADS (còn gọi là kiểm sát toàn diện hoạt động THADS) hoặc một số giai đoạn trong quá trình THADS, đã có căn cứ xác định là vi phạm nghiêm trọng như: Xác minh điều kiện THADS, áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế THADS; vi phạm trong việc thẩm định giá, bán đấu giá hoặc thu chi tiền THADS,….

2. Kỹ năng phát hiện vi phạm khi tiến hành trực tiếp kiểm sát

- Phát hiện vi phạm thông qua việc nghiên cứu báo cáo của cơ quan THADS: Báo cáo của cơ quan THADS về tình hình, kết quả công tác THADS giúp cho đoàn trực tiếp kiểm sát bước đầu nắm được số liệu, thông tin về tình hình chấp hành pháp luật và kết quả công tác THADS; nắm được những khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành án và những kiến nghị, đề xuất của cơ quan THADS. Qua nghiên cứu báo cáo, đối chiếu với hồ sơ, sổ sách, tài liệu về THADS, đoàn trực tiếp kiểm sát thấy được những vấn đề chưa được làm rõ hoặc có sự mâu thuẫn để tiến hành xác minh, yêu cầu cơ quan THADS giải trình, từ đó xác định được chính xác số liệu, thông tin về tình hình và kết quả công tác THADS, xác định được vi phạm pháp luật trong hoạt động THADS. Đây là cơ sở để đoàn trực tiếp kiểm sát xây dựng bản kết luận trực tiếp kiểm sát sau khi kết thúc cuộc kiểm sát.

- Phát hiện vi phạm từ việc xem xét các loại sổ sách về thi hành án: Các loại sổ sách về THADS là nguồn tài liệu để VKSND xem xét, đối chiếu, kết luận về vi phạm pháp luật trong hoạt động THADS. Trong thực tế, cơ quan THADS thường không lập đầy đủ các loại sổ sách về thi hành án theo quy định tại Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/2/2016 của Bộ Tư pháp, việc ghi chép thường không kịp thời, không đầy đủ, đúng các cột mục, đôi khi có hiện tượng chèn dòng, chèn số thứ tự…. Đây cũng là một trong những cơ sở để VKS phát hiện vi phạm của Cơ quan THA.

- Phát hiện vi phạm từ việc kiểm tra hồ sơ nghiệp vụ thi hành án: Hồ sơ nghiệp vụ thi hành án phản ánh toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án của chấp hành viên, cơ quan THADS. Kiểm tra hồ sơ thi hành án là hoạt động cần thiết khi kiểm sát hoạt động THADS. Mục đích kiểm tra hồ sơ thi hành án nhằm làm rõ vi phạm trong việc lập, lưu trữ hồ sơ và vi phạm trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 62/2015, Điều 30 Thông tư số 01/2016/TT-BTP, hồ sơ thi hành án bao gồm: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; các biên bản bàn giao, xử lý vật chứng, tài sản đã kê biên, tạm giữ; biên bản xác minh, biên bản giải quyết việc thi hành án; biên bản giao nhận; giấy báo; giấy triệu tập; giấy mời; các đơn yêu cầu, khiếu nại về thi hành án; các biên lai, phiếu thu, phiếu chi; các tài liệu liên quan đến việc xử lý tài sản để thi hành án; các công văn, giấy tờ của cơ quan THADS, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thi hành án, .... Các tài liệu có trong hồ sơ thi hành án phải được sắp xếp cẩn thận, theo thứ tự thời gian, được đánh số bút lục từ số 01 đến số cuối cùng và liệt kê đầy đủ vào bảng danh mục in trên bìa hồ sơ thi hành án. Khi kiểm tra hồ sơ nghiệp vụ thi hành án, cần xem xét thời hạn lập hồ sơ nghiệp vụ thi hành án, thứ tự đánh số bút lục và sắp xếp các tài liệu trong hồ sơ; việc bảo quản hồ sơ thi hành án, đối chiếu với quy định tại Điều 30 Thông tư số 01/2016/TT-BTP. Cần chú ý các trường hợp làm giả, rút tài liệu, chèn tài liệu trong hồ sơ khi số thứ tự không đúng, không hợp lý về mặt thời gian, có dấu hiệu gạch hoặc tẩy xóa bút lục,…để xác định có hay không có vi phạm trong việc lập và bảo quản hồ sơ nghiệp vụ THADS.

Về nội dung hồ sơ thi hành án, khi nghiên cứu hồ sơ THADS phải làm rõ được các vấn đề như: Nghĩa vụ phải thi hành án, việc tổ chức thi hành nghĩa vụ và những vi phạm trong việc tổ chức THADS. Để làm rõ nghĩa vụ thi hành án, cần xem xét quyết định thi hành án, đối chiếu với bản án, quyết định đưa ra thi hành và đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu). Để phát hiện vi phạm trong việc tổ chức thi hành án, kiểm sát viên cần xem xét tính có căn cứ, hợp pháp trong các quyết định, hành vi của chấp hành viên, cơ quan THADS trong quá trình tổ chức thi hành án. Đối với các hành vi về thi hành án (ấn định thời hạn tự nguyện thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức cưỡng chế, kê biên tài sản, cho đương sự thỏa thuận về việc THADS hoặc thỏa thuận về giá hoặc thỏa thuận về xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản...), cần xem xét căn cứ thực hiện, thời gian thực hiện và nội dung đã tiến hành, việc lập các biên bản và nội dung các biên bản về thi hành án (ngày lập biên bản, thành phần tham gia, nội dung biên bản); đối chiếu với các điều luật tương ứng để xác định có hay không có vi phạm trong quá trình tổ chức thi hành án (các vi phạm về xác minh điều kiện thi hành án, cưỡng chế THA, bán đấu giá tài sản, thanh toán tiền thi hành án...). Để kiểm sát các quyết định về thi hành án của chấp hành viên, cơ quan THADS, cần xem xét căn cứ và thời hạn ban hành, nội dung quyết định và việc gửi, thông báo, đối chiếu với các điều luật tương ứng để xác định có hay không có vi phạm trong việc ra các quyết định về hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, ủy thác, áp dụng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế THA,....

- Phát hiện vi phạm thông qua đối chiếu, so sánh tài liệu của hồ sơ thi hành án, hồ sơ bán đấu giá tài sản, hồ sơ kiểm sát thi hành án và tài liệu do đương sự cung cấp: Khi kiểm sát, cần nghiên cứu kỹ hồ sơ nghiệp vụ thi hành án để xác định những vi phạm về việc cưỡng chế, kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản,…. Đối với những vụ việc phức tạp, có dấu hiệu vi phạm, cần chú ý kiểm sát chặt chẽ trình tự, thủ tục, nội dung việc tổ chức thi hành bản án, quyết định; đối chiếu với các tài liệu có trong hồ sơ thẩm định giá, bán đấu giá tài sản (do VKSND yêu cầu Trung tâm dịch vụ bán đấu giá hoặc Doanh nghiệp bán đấu giá cung cấp). VKSND cũng cần đối chiếu với hồ sơ kiểm sát THADS, đồng thời đối chiếu với các tài liệu do đương sự cung cấp hoặc do VKSND thu thập. Từ đó, tìm ra những điểm mâu thuẫn, vi phạm và yêu cầu cơ quan THADS giải trình để xác định chính xác vi phạm.

- Phát hiện vi phạm từ nghiên cứu hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án và nguồn thông tin qua các hoạt động nghiệp vụ của Viện kiểm sát, các cơ quan hữu quan và nguồn tin do nhân dân cung cấp, do Báo, Đài hoặc do Viện kiểm sát cấp trên chuyển đến: Trên cơ sở kết quả kiểm tra sổ nhận đơn và hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án, cần làm rõ những nội dung: Việc nhận đơn và kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo phải bảo đảm thời hạn luật định; việc phân loại khiếu nại, tố cáo theo đơn của đương sự; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS có đúng, đầy đủ so với nội dung khiếu nại, tố cáo không? Có bao nhiêu trường hợp đương sự khiếu nại, tố cáo đúng hoàn toàn, đúng một phần hoặc sai hoàn toàn? Hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền giải quyết, thời hạn giải quyết và thủ tục giải quyết có đúng quy định pháp luật không? Các tồn tại chưa được giải quyết hoặc các đơn khiếu nại, tố cáo kéo dài gây bức xúc cho đương sự chưa được giải quyết,... Để nắm được những nội dung trên, cần lưu ý ngày nhận đơn, kết quả giải quyết ghi trong sổ nhận đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án, nghiên cứu hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án, đối chiếu với hồ sơ kiểm sát THADS và các nguồn tin do Báo, Đài chuyển đến, do VKSND thu thập để làm rõ vi phạm trong hoạt động THA của cơ quan THADS.

Vận dụng những kinh nghiệm nêu trên vào quá trình trực tiếp kiểm sát trong năm 2021, VKSND tỉnh đã tiến hành trực tiếp kiểm sát 02 cuộc tại Cục THADS tỉnh và 02 cuộc tại Chi cục THADS cấp huyện (Tam Đảo và Sông Lô), qua công tác kiểm sát đã phát hiện được một số tồn tại, vi phạm điển hình như: Xác minh điều kiện THA không đầy đủ, chính xác, chậm xác minh điều kiện THA lần đầu, xác minh chưa đúng định kỳ, xác minh điều kiện thi hành án không đúng với tình trạng thực tế của người phải THA dẫn đến phân loại việc chưa điều kiện không chính xác,….; một số việc thi hành án có điều kiện đương sự không tự nguyện THA nhưng chấp hành viên chậm áp dụng biện pháp cưỡng chế, chậm tổ chức thi hành dứt điểm những việc đã ra quyết định cưỡng chế; vi phạm về trình tự, thủ tục thông báo, niêm yết thi hành án như: Không thông báo cho Tòa án về việc đã chuyển bản án, quyết định, không thông báo quyết định thi hành án cho người được THA, không dừng việc công khai thông tin của người phải THA trên cổng thông tin điện tử khi người phải THA đã thi hành xong, không gửi quyết định chưa có điều kiện THA cho UBND cấp xã để niêm yết công khai theo quy định; không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với nguời phải THA có điều kiện THA; vi phạm trong việc thu, chi, quản lý tiền thi hành án như: Thu phí thi hành án không đúng quy định; chậm thanh toán tiền thi hành án; vi phạm về chế độ tiếp nhận, bảo quản, kiểm kê tang vật chứng (vật chứng để tồn đọng lâu nhưng chưa tiến hành phân loại, xử lý); vi phạm trong việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo (thụ lý chậm, phân loại đơn không chính xác, chưa vào sổ tiếp nhận và phân loại xử lý đơn đã ra công văn trả lời đơn, giải quyết chưa triệt để các nội dung khiếu nại, tố cáo,….); không đôn đốc, yêu cầu Tòa án giải thích bản án theo khoản 4 Điều 20 và Điều 179 Luật THADS;….

Thông qua kết quả công tác trực tiếp kiểm sát, VKSND tỉnh đã ban hành kiến nghị với đơn vị trực tiếp kiểm sát và kiến nghị tổng hợp đối với Cục thi hành án dân sự tỉnh bảo đảm có căn cứ, được chấp nhận thực hiện./.

Tác giả: Cù Thị Hồng Duyên - KSVTC, phòng 8 VKSND tỉnh Vĩnh Phúc - Nguồn: - Số lần được xem: 39


Liên kết website