Kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận

Ngày đăng: 18/05/2022  - Lượt xem: 57

Ngày 12/4/2022, Toà án cấp phúc thẩm đã mở phiên toà phúc thẩm xét xử vụ án hành chính về khiếu kiện hành vi hành chính, giữa người khởi kiện ông Nguyễn Văn T và người bị kiện Uỷ ban nhân dân xã ĐT do có kháng nghị của VKS tỉnh và chấp nhận kháng nghị, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Tại bản án sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T, huỷ Công văn số 196/UBND-ĐC ngày 3/12/2019 của UBND xã ĐT. Tuy nhiên, theo kháng nghị của VKS tỉnh và nhận định của cấp phúc thẩm, thửa đất số 75 mà ông T đề nghị cấp giấy chứng nhận QSD đất từ năm 1994 đã được UBND tỉnh Vĩnh Phú (cũ) giao cho Công ty N. Năm 2005, UBND tỉnh Vĩnh Phúc thu hồi và giao cho Trung tâm phát triển quỹ đất Vĩnh Phúc quản lý. Nhưng trong tờ bản đồ địa chính đo vẽ năm 2002 và sổ mục kê lập ngày 25/11/2002 quy chủ là UBND xã ĐT. Năm 2016, thực hiện dự án: Đường từ trường Biên phòng đến Bệnh viện Tâm thần tại xã ĐT, UBND thành phố VY lại bồi thường một phần diện tích đất của thửa đất số 75 nêu trên cho hộ ông T.

Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ trước năm 1994, thửa đất trên do ai quản lý, sử dụng? Hồ sơ địa chính (Tờ bản đồ 299, sổ địa chính, sổ mục kê) trước thời điểm năm 2002 thửa đất số 75 được thể hiện như thế nào? Tại sao tại Quyết định số 1069/QĐ-UBND ngày 12/8/1994 của UBND tỉnh Vĩnh Phú thì thửa đất trên đã được giao cho công ty N nhưng đến năm 2002, theo bản đồ địa chính và sổ mục kê lập năm 2002 thì thửa đất trên được quy chủ là UBND xã ĐT? Tòa án chưa làm rõ việc năm 2005 thửa đất trên nằm trong diện tích đất thu hồi của công ty N và giao cho Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh quản lý nhưng năm 2016 khi thu hồi để thực hiện dự án lại bồi thường cho gia đình ông T?

Bản án sơ thẩm nhận định: Tại Công văn số 2210/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 17/8/2000 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh xác định: ...Tại thời điểm bị thu hồi đất năm 1994 – 1995, gia đình không nhận tiền đền bù giải phóng mặt bằng do Công ty N chi trả nếu vẫn sử dụng liên tục đến năm 2005 - 2007... thì diện tích đất trên vẫn thuộc quyền sử dụng của các hộ dân. Trong trường hợp này các hộ dân đang sử dụng liên tục....vẫn được xem xét cấp Giấy chứng nhận theo loại đất ban đầu. Theo danh sách đền bù của Công ty N cung cấp cũng không có tên ông T. Nhưng Tòa án sơ thẩm chưa thu thập hồ sơ, chưa xác minh làm rõ tại thời điểm năm 1994 - 1995, Công ty N có chi trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng cho hộ ông T không? Năm 2005, nhà nước thu hồi đất của Công ty N thì Công ty có được nhà nước hoàn trả tiền bồithường giải phóng mặt bằng không? Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Ban Giải phóng mặt bằng và Phát triển quỹ đất tỉnh vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để lấy lời khai làm rõ những vấn đề trên và làm rõ thửa đất số 75 mà ông T đề nghị cấp GCNQSD đất có nằm trong diện tích đất mà UBND tỉnh đã giao cho Ban Giải phóng mặt bằng và Phát triển quỹ đất tỉnh quản lý không?

Mặt khác, thửa đất trên ông T đề nghị cấp giấy chứng nhận lần đầu là loại đất không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai và theo quy định khoản 2 Điều 101 của Luật đất đai mà Tòa án căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện nhưng Tòa án sơ thẩm chưa xác minh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm rõ thửa đất trên có phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quannhà nước có thẩm quyền phê duyệt không?

Với vi phạm nêu trên, tại án cấp phúc thẩm đã chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát tỉnh, hủy Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩmgiải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

 

Tác giả: Nguyễn Thị Đào Hoa Phòng 10 -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc - Nguồn: - Số lần được xem: 57


Liên kết website