Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân theo Luật tố tụng hành chính năm 2015

Ngày đăng: 20/05/2016  - Lượt xem: 6493

Ngày 25/11/2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIII, kì họp thứ 10 đã thông qua Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016trừ các quy định liên quan đến người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; pháp nhân là người đại diện, người giám hộ; hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân, do có liên quan đến qui định của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 nên sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

Theo quy định tại Điều 25, Điều 36 của Luật tố tụng hành chính năm 2015, Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng hành chính. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật.

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính:

Theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015, khi kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ án hành chính, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện. Luật tố tụng hành chính năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định tại các Điều 109 và 110 Luật tố tụng hành chính năm 2010 nhằm bảo đảm để Viện kiểm sát thực hiện tốt quyền này như: Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao lại và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu (Điều 123); phiên họp xem xét giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại. Trường hợp người khởi kiện, Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp (Điều 124).

- Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án hành chính của Tòa án (Điều 43 Luật TTHC; Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân);

 - Nghiên cứu hồ sơ vụ án; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hoặc có thể xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc kháng nghị (khoản 6 Điều 84 Luật TTHC).

- Tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu ý kiến của VKS về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án hành chính ở các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thủ tục đặc biệt theo quy định của Luật tố tụng hành chính (các Điều 25, 156, 190, 200, 224, 240, 267, 286; 290 Luật TTHC).

 - Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính của Tòa án theo quy định của Luật TTHC (các Điều 43, 211, 260, 283 Luật TTHC);

- Yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng theo qui định của Luật TTHC; kiến nghị với Tòa án nhân dân khắc phục những vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án hành chính; kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thi hành án hành chính và cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải chấp hành bản án, quyết định của Tòa án; kiến nghị với Tòa án về việc áp dụng hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; kiến nghị với Tòa án về quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn (Điều 27 Luật TCVKSND; Điều 42, 43, 76, 248, 315 Luật TTHC).

- Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật (Điều 43).

 - Hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoãn thi hành đối với phần dân sự trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự  (Điều 261 Luật TTHC); quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 261, 283 Luật TTHC),

 - Kiến nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi có căn cứ xác định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết định đó (Điều 287 Luật TTHC).

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát (Điều 42): Luật TTHC năm 2015 tiếp tục qui định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng như Luật TTHC 2010 cụ thể: Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính; phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ án hành chính; kiểm tra hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật; quyết định thay đổi Kiểm sát viên; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm,tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án; giải quyết khiếu nại tố, cáo theo qui định, và đã bổ sung thêm quyền mới như sau:

- Phân công, thay đổi Kiểm tra viên tiến hành tố tụng đối với vụ án hành chính (quyền mới);

- Yêu cầu, kiến nghị theo qui định của Luật này;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo qui định của Luật này. 

Cần chú ý đến quyền hạn của Phó Viện trưởng được ủy quyền qui định tại khoản 2 Điều 42 có bổ sung như sau: Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản 1 Điều này. Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên (Điều 43): Các quyền trực tiếp của Kiểm sát viên được qui định tại Luật TTHC năm 2010 gồm: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; tham gia phiên tòa, phiên họp; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác. Luật TTHC năm 2015 đã qui định rõ từng nhiệm vụ, quyền hạn (có bổ sung nhiều hơn so với Luật TTHC 2010) và đã được cụ thể hóa từ nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại Điều 27 Luật tổ chức VKSND 2014  như: kiểm sát trả lại đơn khởi kiện; kiểm sát thụ lý, nghiên cứu hồ sơ, xác minh thu thập chứng cứ; tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu, kiến nghị Tòa án; kiểm sát đối với người tham gia tố tụng và có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.

Đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật.

* Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên (Điều 44)

 Đây là điều mới được Luật TTHC năm 2015 qui định bổ sung thêm địa vị pháp lý của Kiểm tra viên thuộc ngành Kiểm sát, là người tiến hành tố tụng hành chính. Kiểm tra viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên;

- Lập hồ sơ kiểm sát vụ án hành chính theo sự phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát;

- Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật theo quy định của Luật này.

2. Một số vấn đề Kiểm sát viên cần lưu ý khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án hành chính theo Luật tố tụng hành chính năm 2015:

- Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử theo thủ tục sơ thẩm; hoặc đã được Tòa án xét xử theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà có kháng cáo, kháng nghị nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử theo thủ tục phúc thẩm; hoặc những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm…thì đều áp dụng quy định của Luật TTHC năm 2015 để giải quyết (Nghị quyết số 104/2015/QH13)

- Đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng theo Luật TTHC năm 2015  là thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh (theo Khoản 4 Điều 32) thì Tòa án cấp huyện đã thụ lý tiếp tục giải quyết  mà không chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

- Về trình tự phiên tòa sơ thẩm, Điều 160 Luật TTHC năm 2010 chỉ  quy định : "Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án". Còn tại Điều 190 của Luật TTHC năm 2015 thì qui định thêm, ngoài việc Kiểm sát viên phát biểu về tố tụng thì  phải “phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án” (tức là phát biểu cả về tố tụng và nội dung vụ án). Đây là điểm khác biệt mà các Kiểm sát viên phải chú ý để thực hiện bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ của ngành.

- Về sự có mặt của Kiểm sát viên, theo qui định tại Điều 156 Luật TTHC năm 2015, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm, phải có nhiệm vụ tham gia phiên tòa, nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa như Luật TTHC năm 2010. Còn tại phiên tòa phúc thẩm thì Hội đồng xét xử chỉ hoãn phiên tòa khi Kiểm sát viên vắng mặt trong trường hợpViện kiểm sát có kháng nghị (Điều 224 Luật TTHC).

Tác giả: Thu Hằng - Phòng 10, Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc - Nguồn: VKSND tỉnh Vĩnh Phúc - Số lần được xem: 6493

Tin bài cùng chuyên mục



Liên kết website