Một số nội dung cơ bản về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Ngày đăng: 26/12/2016  - Lượt xem: 1030

Quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 (sau đây viết tắt là Bộ luật TTDS 2015).

Quá trình soạn thảo, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã được nghiên cứu để sửa đổi một cách cơ bản và toàn diện. Cùng với việc kế thừa những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được áp dụng trong mười năm qua, Bộ luật TTDS 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm khắc phục những hạn chế của BLTTDS 2004 và đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Trong đó những thay đổi trong quy định về yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của các đương sự khi tham gia giải quyết vụ án dân sự tại tòa án là một trong những nội dung đổi mới đáng kể, thể hiện như sau:

          Thứ nhất, BLTTDS 2015 quy định yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự là cơ sở để tòa án căn cứ, lựa chọn, áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự

          Về cơ bản, thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại tòa án không có nhiều thay đổi. Điểm khác biệt lớn nhất là BLTTDS 2015 quy định hai thủ tục (hình thức) giải quyết vụ án dân sự tại tòa án, gồm: Thủ tục rút gọn và thủ tục thông thường. Điểm đ khoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015 quy định, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu vụ án dân sự được tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục rút gọn mà phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập của các đương sự tham gia giải quyết vụ án, thì vụ án không được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Tòa án phải ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

          Theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 (Nghị quyết số 05/2012) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần lưu ý: Phân biệt rõ yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự với ý kiến của các đương sự tham gia giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện (nguyên đơn). Nếu là ý kiến của các đương sự đối với yêu cầu của người khởi kiện thì vụ án vẫn có thể được áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết, nhưng nếu phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì vụ án dân sự đã thụ lý không được áp dụng thủ tục rút gọn. Đồng thời, quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015 còn bảo đảm nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong quá trình tham gia giải quyết vụ án dân sự. Vì xét về bản chất khi các đương sự tham gia giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập thì họ có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71; thủ tục yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định tại Điều 202 BLTTDS 2015 và Điều 13 Nghị quyết số 05/2012 về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.

          Có thể thấy rằng, với các quy định dẫn chiếu nêu trên yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự tham gia giải quyết vụ án dân sự là một trong những điều kiện, cơ sở để tòa án căn cứ, lựa chọn, áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự cho phù hợp.

          Thứ hai, sửa đổi quy định về thời điểm đương sự có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, giúp cho việc giải quyết vụ án của Tòa án được chủ động và hợp lý hơn

          So sánh quy định của BLTTDS 2015 với BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), chúng ta thấy có sự khác biệt về thời điểm đương sự tham gia giải quyết vụ án dân sự có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Theo đó, thời điểm đương sự có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập quy định trong BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) là “trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử”, còn BLTTDS 2015 là “trước thời điểm tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Như vậy, thời hạn các đương sự được quyền yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập theo BLTTDS 2015 đã được rút ngắn so với trước đây. Điểm mới về thời điểm đưa ra yêu cầu độc lập, yêu cầu phản tố của các đương sự trong BLTTDS 2015 để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp về thủ tục tố tụng công khai, minh bạch chứng cứ, giải quyết các yêu cầu, đề nghị của đương sự về thu thập chứng cứ, bảo đảm sự tham gia và giám sát của Nhân dân đối với hoạt động tư pháp, giúp cho việc giải quyết vụ án của Tòa án được chủ động và hợp lý hơn. Bởi nếu quy định đương sự có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trước khi tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử như trước đây, có trường hợp tòa án đã tiến hành hòa giải xong vụ án các đương sự mới đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Lúc này, tòa án lại phải tiến hành thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ và hòa giải riêng đối với các yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, khiến cho thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài, gây tốn kém thời gian, công sức của cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.

          Điểm mới của BLTTDS 2015 là bổ sung quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử. Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 203 và khoản 2 Điều 208 BLTTDS 2015, Thẩm phán tòa án có nhiệm vụ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Như vậy, việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường là bắt buộc, thậm chí khi vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 206, 207 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán vẫn phải tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải. Đương sự được quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trước thời điểm Thẩm phán mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau thời điểm này đương sự mới đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập thì Tòa án không chấp nhận và hướng dẫn họ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.

          Thứ ba, việc đương sự đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập có ý nghĩa quyết định thời hạn giải quyết vụ án dân sự

          Về bản chất, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập cũng là yêu cầu khởi kiện nên yêu cầu này có thể được khởi kiện bằng vụ án độc lập. Nhưng vì yêu cầu này có liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ của các đương sự đối với nguyên đơn để vụ án giải quyết chính xác, nhanh chóng hơn nên các đương sự có quyền yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án. Thủ tục yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của các đương sự được thực hiện theo quy định của BLTTDS 2015 về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy, các yêu cầu này nếu phát sinh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với thời hạn giải quyết vụ án dân sự trên thực tế. Hiện nay, quy định của BLTTDS 2015 về thời điểm các đương sự có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập là “trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” nên thời hạn giải quyết vụ án đã được rút ngắn hơn so với trước đây. Dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 05/2012, thấy rằng: Nếu Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của đương sự có liên quan để giải quyết trong cùng một vụ án, thì (thời hạn chuẩn bị xét xử được xác định từ ngày hoàn thành thủ tục phản tố, yêu cầu độc lập) ngày thụ lý vụ án để tính thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án đó được xác định như sau:

          + Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, thì ngày thụ lý vụ án là ngày Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo.

          + Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp tiền tạm ứng án phí, thì ngày thụ lý vụ án là ngày bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.

          + Trường hợp có nhiều bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, thì ngày thụ lý vụ án được xác định như sau:

          - Là ngày Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố hoặc đơn về yêu cầu độc lập cuối cùng, nếu họ đều thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí;

          - Là ngày người nộp cuối cùng cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, nếu họ thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí.

          Tóm lại, những điểm mới của BLTTDS 2015 so với BLTTDS 2004 quy định về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự được nêu ở trên là những điểm mới cơ bản, tiến bộ. Những sửa đổi, bổ sung này góp phần thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như chiến lược về cải cách tư pháp, phù hợp với quá trình đổi mới công tác lập pháp và chương trình cải cách hành chính; góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Dung - Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phúc Yên - Số lần được xem: 1030